Thứ Tư, 19 tháng 7, 2017

Hệ thống xử lý môi trường nước thải mủ cao su

I. thuộc tính nước thải - và hệ thống xử lý nước thải môi trường mủ cao su:

Nước thải chế biến cao su được hình thành cốt yếu trong khoảng những công đoạn khuấy trộn, khiến đông, gia công cơ học và nước rửa máy móc, bồn chứa. Đặc tính ô nhiễm của nước thải ngành sản xuất mủ cao su.

 

 



Nước thải chế biến cao su có pH tốt, từ 4.2 tới 5.2 do việc sử dụng axit để khiến cho đông tụ mủ cao su. những hạt cao su còn đó trong nước ở dạng huyền phù mang nồng độ rất cao. các hạt huyền phù này là những hạt cao su đã đông tụ nhưng chưa kết lại thành mảng lớn, nảy sinh trong công đoạn đánh đông và cán crep. giả dụ lưu nước thải trong một thời gian dài và không sở hữu sự xáo trộn mẫu thì huyền phù này sẽ tự nổi lên và kết dính thành từng mảng to trên bề mặt nước. các hạt cao su còn đó ở dạng nhũ tương và keo phát sinh trong giai đoạn rửa bồn đựng, rửa những chén mỡ, nước tách từ mủ ly tâm và cả trong thời kỳ đánh đông. Trong nước thải còn cất 1 lượng lớn protein hòa tan, axit foocmic (dùng trong thời kỳ đánh đông), và N-NH3 (dùng trong quá trình kháng đông). Hàm lượng COD trong nước thải là hơi cao, với thể lên tới 15.000mg/l. Tỷ lệ BOD/COD của nước thải là 0.6 – 0.88 rất phù hợp cho giai đoạn xử lý sinh vật học.

 

 

 

 



II. sơ đồ công nghệ và thuyết minh kỹ thuật hệ thống xử lý nước thải môi trường

một. lược đồ kỹ thuật

hai. Thuyết minh kỹ thuật hệ thống xử lý nước thải môi trường mủ cao su

Nước thải từ những công đoạn sản xuất được thu gom bởi hệ thống cống chung và đưa về hệ thống xử lý tụ họp. Nước thải được đưa vào bể gạn mủ để chiếc bỏ các hạt cao su ở dạng huyền phù. Trong bể gạn mũ, nước thải đi qua có véc tơ vận tốc tức thời rất chậm, giảm thiểu tối đa khả năng xáo trộn và những hạt cao su sẽ tự động nổi lên trên bề mặt do chênh lệch tỉ trọng so sở hữu nước. Theo kết quả nghiên cứu cho thấy, hiệu quả khử COD của bể gạn mũ bằng cách thức đông tụ tự dưng mang thể lên tới 70% sau thời gian lưu nước là 20h, hàm lượng SS giảm hơn 90%. từ đây, nước thải được đưa về pH thích hợp và dẫn vào bể lọc kị khí với lớp vật liệu đệm là xơ dừa nhằm phân hủy những chất hữu cơ phức tạp thành các chất đơn giản hơn và chuyển hóa chúng thành CH4, CO2, H2O, H2S… Nước thải sau lúc qua bể lọc kị khí xơ dừa với COD nao núng từ 500 – 1200mg/l sẽ tự chảy qua bể lọc hiếu khí. Bể lọc sinh vật học hiếu khí vừa mang nhiệm vụ khử tiếp phần COD còn lại, vừa làm cho giảm mùi hôi sở hữu trong nước thải. Hiệu quả của công đoạn này hơi cao và hơi ổn định, từ 60 – 80%. ngoài ra, nước thải đầu ra phải tiếp tục được xử lý qua hồ sinh học để tiến hành khử phần COD và NH3 còn lại trong nước thải để đảm bảo tiêu chuẩn xả thải.

(Nguồn: PGS – TS Nguyễn Văn Phước – Xử lý nước thải sinh hoạt và công nghiệp bằng phương pháp sinh học)

 

 

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét